Trang thông tin hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm du lịch Phong Nha

Điểm Đến

Đình Làng Lệ Sơn: Hồn Làng Việt Giữa Nhịp Sống Hiện Đại

Nằm yên bình trên vùng đất vượng khí của thôn Trung Làng, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, đình làng Lệ Sơn tựa như một chứng nhân trầm mặc, lưu giữ hồn cốt lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật độc đáo của một Lệ Sơn xưa.

Truy ngược dòng thời gian, theo dấu gia phả của các dòng họ, vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông ban chiếu chiêu mộ dân khai khẩn châu Bố Chính. Trên hành trình khải hoàn từ Chiêm Thành, bậc tiền nhân Lê Văn Hành đã xuôi thuyền ngược dòng Gianh, dừng chân khảo sát chốn Cồn Vang.

Trước khung cảnh sơn thủy hữu tình, đất đai màu mỡ, cây cối xanh tươi, trái tim người khai mở đã rung động. Cồn Vang thuở ấy còn là vùng đất hoang sơ, rợp bóng cây vang vang, trở thành dấu ấn đầu tiên trong ký ức những người đặt nền móng.

Mười năm miệt mài khai hoang, dựng ấp, ông Lê Văn Hành dâng biểu tâu vua, xin định danh cho vùng đất mới. Năm 1482, triều đình cử quan Cai tri châu Bố Chính Nguyễn Huy Tưởng, tước Lạng Động hầu, về Cồn Vang thực hiện việc trắc địa, lập sổ sách, khai sinh xã hiệu Lệ Sơn.

Để có một nơi linh thiêng thờ phụng thần linh, Thành hoàng làng, những bậc tiên hiền khai khẩn, những người có công bảo vệ xóm làng, người dân Lệ Sơn đồng lòng góp sức xây dựng ngôi đình. Dấu mốc thời gian khởi dựng vẫn còn ẩn sau lớp bụi thời gian, nhưng có lẽ, tiếng búa vọng vào khoảng giữa năm 1482 và trước năm 1757, khi chùa Vĩnh Phúc được xây nên.

Đình Làng Lệ Sơn

Thuở ban sơ, đình làng tọa lạc tại khu vực trạm y tế xã ngày nay, thuộc thôn Đình Miệu. Đó là một nếp nhà gỗ đơn sơ năm gian, được dựng nên từ tấm lòng và vật liệu đóng góp của dân làng, uy nghi trên mảnh đất rộng khoảng 600m2.

Năm Ất Sửu 1865, cơn thịnh nộ của dòng Gianh đã cuốn phăng ngôi đình trong trận lũ kinh hoàng. Nhưng kỳ lạ thay, ngôi đình lại dạt về một vùng đất cao ráo, bằng phẳng ngay trung tâm làng, cách vị trí cũ chừng 300m, thuộc địa phận thôn Trung Làng. Người dân tin rằng đó là ý trời, là sự hiển linh của các vị thần, nên đã thành kính tế lễ và quyết tâm dựng lại ngôi đình tại nơi này.

Năm 1866, đình làng Lệ Sơn khoác lên mình chiếc áo mới trong lần trùng tu đầu tiên. Với quy mô bề thế hơn, kết cấu tinh xảo hơn, đình ngự trong khuôn viên gần 1.000m2, được xây tường đá vững chãi.

Ngôi đình mang dáng dấp nhà rường năm gian, năm lòng cột, với trếnh, kèo được làm từ gỗ mít, gỗ lim quý giá. Khi công việc trùng tu hoàn thành, người con ưu tú của làng Lệ Sơn, cử nhân Lê Huy Tuân, lúc bấy giờ đang giữ chức Án sát tỉnh Ninh Bình, đã dâng cúng một chiếc trống đại uy nghi và một bức hoành phi mang đậm dấu ấn văn hóa. Trống đại với đường kính 0,8m, tang trống dài 1,2m. Bức hoành phi chạm trổ hoa văn tinh tế, nổi bật bốn chữ “Vạn phúc du đồng” – ước nguyện về muôn điều tốt lành luôn đồng hành.

Bên phải khắc ghi dấu ấn thời gian “Hoàng triều Tự Đức Bính Dần xuân” (mùa xuân năm 1866). Bên trái trang trọng đề câu “Ninh Bình hộ phủ lãnh án sát sứ Lê Huy Tuân cung khắc”, thể hiện lòng thành kính của vị Án sát sứ. Bức hoành phi và chiếc trống trở thành những bảo vật vô giá, minh chứng cho bề dày lịch sử và văn hóa của đình làng, hiện được trân trọng lưu giữ tại UBND xã.

Theo trang sử “Làng Cả Lệ Sơn” ghi lại, đến năm 1924, trước sự xuống cấp của ngôi đình, Hội đồng kỳ mục đã đồng lòng kêu gọi dân làng chung tay trùng tu lần thứ hai. Người góp của, kẻ góp công, dốc lòng phục dựng ngôi đình thêm khang trang. Cố Lê Bính, hậu duệ đời thứ 12 của cụ Lê Văn Hành, nguyên là Đốc học Quảng Ngãi, người mở trường dạy học và là vị Tiên chỉ uy tín của làng, đã được dân làng tin tưởng giao trọng trách chủ trì công việc trùng tu.

Lần trùng tu này mở rộng quy mô ngôi đình trên diện tích khoảng 2.000m2, với tường cao bao bọc xung quanh. Mặt tiền đình hướng về phương nam, lấy lèn Thần Vì làm tiền án vững chãi. Phía sau, dòng Gianh uốn lượn như một thanh long ôm ấp, xa xa lèn Đứt Chân sừng sững như bạch hổ trấn giữ. Trước cổng đình là ao sen rộng khoảng 700m2, tỏa hương thơm ngát, tiếp nối là con đường làng duyên dáng dẫn vào.

Cổng đình rộng 2,7m, không có cửa, với hai trụ cổng là hai cột nanh cao 6m, trên đỉnh là hình tượng hai con nghê chụm đầu vào nhau đầy uy nghiêm. Chân cột nanh vuông vắn cạnh 0,9m, phía trước khảm đôi câu đối bằng sành do chính tay cố Lê Bính viết:

“Khí tác sơn hà công minh chính trực nhi nhất
Đức hợp thượng hạ cao minh bác hậu vô cương.”

Mang ý nghĩa sâu sắc: Giữa vũ trụ dựng xây đất nước với sự công minh chính trực là nhất; Đức độ hòa hợp trên dưới, cao sáng, bao dung vô bờ bến.

Đình có cấu trúc hài hòa với hai hồi lang ở hai phía tây bắc và đông nam, ở giữa là đình trung năm gian, chia thành đình tiền và đình hậu. Nền đình được lát xi măng phẳng bóng. Đình tiền rộng rãi, năm gian thông nhau, là nơi diễn ra các nghi lễ, bày tiệc và hội họp của quan viên. Hai hồi lang là nơi đặt giá treo mũ áo, dù lọng của các bậc quyền quý.

Đình trung năm gian rộng lớn, với bộ vì kèo kết cấu theo lối năm lòng kiểu nhà rường, các đầu đao uốn cong mềm mại, đầu mái vươn cao, trang trí hình rồng cuộn, mây vờn tinh xảo. Gỗ lim và gỗ mít là những vật liệu chính tạo nên vẻ đẹp bền vững của ngôi đình. Tám cột cái đường kính khoảng 0,7m, tám cột con đường kính khoảng 0,4m và bốn cột cù đường kính khoảng 0,25m vững chãi nâng đỡ mái đình. Băng, xà, kèo được chạm trổ hình long, ly, quy, phượng sống động, đòn tay chạm khắc cuốn thư, bầu rượu, đai kiếm, cung đàn thanh thoát.

Bàn tay tài hoa của các nghệ nhân xưa đã thổi hồn vào gỗ, tạo nên những tác phẩm điêu khắc độc đáo với đa dạng đề tài: hoa lá, mây trời, long phụng, các loài thú và cả những hoạt động đời thường như làm ruộng, uống trà, các trò chơi dân gian… Kiến trúc gỗ của đình thực sự là một bảo tàng nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, với những chủ đề phong phú của bốn mùa, tứ linh.

Khu vực hậu đình uy nghiêm với mái cong vòm cuốn lộng lẫy, trang trí hình rồng chầu, phượng múa. Đây là nơi thờ tự linh thiêng, đặt tượng thờ, vò hương, bài vị và sắc phong của các vị thần. Hậu đình được xây ban thờ nhiều cấp. Bậc cao nhất thờ các thiên thần: Tiên thiên Thần nông Hoàng đế, Đại càn Quốc gia Nam hải, Cao các Mạc sơn.

Bậc kế tiếp thờ các nhân thần, đặt vò hương và bài vị của Tiên thánh Khổng tử, Tứ thánh Khuông quốc, liệt vị Hậu thần tế giám và nhân thần tế giám gồm Đức ông Bản thổ Thành hoàng Nguyễn Huy Tưởng, Hoa Quận công, Chấn Quận công, Trà Quận công và Hiền Quận công, Đức ông Mạnh Linh, Đức ông Mậu Tươi, các vị Tiên hiền khai canh Lê Văn Hành và hậu hiền khai canh là thủy tổ tám dòng họ lớn của làng.

Bậc dưới cùng là nơi đặt cờ, lọng, mâu kiếm, long đao và các sắc phong của triều đình ban cho Thành hoàng làng, các vị tiền khai canh, hậu khai canh; những người con của làng đỗ đạt làm quan to được triều đình sắc phong và giao cho làng cúng tế.

Không chỉ là một công trình kiến trúc, đình làng Lệ Sơn còn là một thực thể văn hóa, nơi hội tụ những giá trị tinh thần của cộng đồng. Xưa kia, đình còn là trụ sở hành chính, nơi làm việc của quan viên, Hội đồng kỳ mục, chức dịch, giải quyết các tranh chấp, thu thuế… Đồng thời, đình còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tiêu biểu nhất là lễ hội. Hội làng, hay còn gọi là lễ tế lục ngoạt, được tổ chức ba năm một lần vào dịp rằm tháng sáu âm lịch.

Ngoài ra, đình còn là nơi diễn ra các lễ báo cốc (báo cơm mới vào vụ chiêm), lễ Thượng điền (sau vụ mười), lễ Hạ điền (mùng một tháng mười một âm lịch). Sân đình rộn ràng với các hoạt động văn hóa, văn nghệ như hát ca trù, trò đánh cờ người, đấu roi mỗi dịp Tết đến xuân về. Khi có người đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan, họ đều về đình làng làm lễ vinh quy bái tổ.

Bên cạnh đình làng, trên khu đất trường mầm non cũ còn có đình Thánh, nơi hội Tư văn của làng thờ Tiên thánh Nho học Khổng Tử. Đình Thánh còn là nơi các nho sĩ đến cúng tế cầu may trước mỗi kỳ thi và tổ chức lễ khao vọng sau khi đỗ đạt.

Đình làng Lệ Sơn không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh, là sợi dây gắn kết cộng đồng, biểu tượng quyền lực của làng xã xưa, mà còn là một nét đẹp, một giá trị văn hóa độc đáo của quê hương. Theo Giáo sư Trần Lâm Biền, đình làng “ngoài các chức năng cơ bản là một trụ sở của chính quyền thời quân chủ chuyên chế, là trung tâm văn hóa của làng xã với tính chất ngôi nhà chung… còn là một kiến trúc tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, nó đã mang dấu ấn của sự dung hội về mặt chính trị, xã hội văn hóa giữa chính thể quân chủ với tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt”.

Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, đình làng trở thành nơi hội họp của các tổ chức cách mạng, nơi huấn luyện dân quân tự vệ, phong trào bình dân học vụ. Đặc biệt, đây là nơi diễn ra cuộc mít tinh lớn của nhân dân toàn xã, bàn kế hoạch và thống nhất phương án cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Năm 1968, bom Mỹ tàn phá, đình làng Lệ Sơn đổ nát, chỉ còn lại đôi trụ biểu và một phần nền đình. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu, ngày 14 tháng 12 năm 2012, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 3081/QĐ-CT công nhận đình làng Lệ Sơn là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Theo nguyện vọng và tâm huyết của đông đảo người con Lệ Sơn, ngày 31 tháng 12 năm 2015, UBND xã Văn Hóa đã tổ chức lễ động thổ tôn tạo, phục dựng lại ngôi đình. Sau gần hai năm thi công, công trình đã hoàn thành, mang lại diện mạo mới cho di tích.

Đình làng Lệ Sơn đã thấm sâu vào tâm thức, trở thành biểu tượng thiêng liêng của quê hương, là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn mỗi người dân nơi đây. Để rồi mai này, dù đi xa muôn phương, trong sâu thẳm trái tim mỗi người con Lệ Sơn vẫn mãi khắc ghi ký ức về “cây đa, bến nước, sân đình” của những ngày xưa cũ.